NGÃ CHẤP

Tất cả si mê lầm lạc không chừa thứ nào, đều được tạo ra do hậu quả của sự tập trung vào bản ngã. Khi thoát khỏi ngã chấp thì si mê không sinh. Ví dụ, giả sử bà con lối xóm đang cãi nhau. Nếu sự việc không liên hệ gì tới bạn, bạn sẽ bình tĩnh nghe lời qua tiếng lại, không nổi giận. Chẳng những thế, bạn còn có thể sáng suốt nhận định phải quấy, biết rõ ai đúng ai sai. Nhưng nếu việc cãi nhau có liên can đến mình, bạn sẽ thấy mình vướng vào một trong hai phe tranh chấp, chấp chặt những gì phe kia làm hoặc nói. Khi ấy bạn làm mờ đi cái diệu dụng chiếu sáng của tâm Phật nơi bạn. Trước kia, bạn có thể phân biệt phải quấy, nhưng bây giờ, bị ngã chấp dẫn đạo, bạn nhất định cho cái gì mình nói đúng là đúng, bất kể nó có đúng thật hay không. Khi giận dữ, bạn chuyển cái tâm Phật của mình thành ra tâm của loài tu la (quỷ chiến đấu), và thế là mọi người hăng tiết lao vào trận cãi vã cay chua.

Vì tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu, nên mọi sự gì bạn đã làm đều tự nhiên để lại những cái bóng phản chiếu trong tâm. Chỉ khi nào bạn bám víu vào những cái bóng ấy, bạn mới phát sinh vọng tưởng. Những ý tưởng không thực sự có sẵn nơi những ảnh tượng được phản chiếu ấy, rồi sau khởi lên. Chúng ta lưu giữ những gì đã thấy và nghe trong quá khứ, và khi chúng hiện lên, thì đó là những ảnh tượng được phản chiếu. Lúc đầu, tư tưởng không có thực chất; nếu chúng được phản chiếu và khởi lên thì cứ để mặc chúng phản chiếu và khởi lên; nếu chúng chấm dứt thì cứ để mặc chúng chấm dứt. Nếu bạn không bám víu vào những cái bóng phản chiếu ấy thì vọng tưởng không sinh. Khi bạn không bám víu vào những ảnh tượng trong tâm, thì bạn không bị mê hoặc. Khi ấy, dù có bao nhiêu ảnh tượng được phản chiếu cũng như không. Dẫu trăm ngàn ý tưởng vọt lên cũng như chúng chưa từng sinh khởi. Điều đó sẽ không thành vấn đề đối với bạn – bạn không có ý tưởng nào cần phải dẹp bỏ hay cắt đứt. Hãy hiểu rõ điều này.

Thiền Sư Bankei

Tại Sao Phải Hành Thiền?

Một nhóm người hành hương đến thăm Ngài Ajahn Chah, hỏi Ngài ba câu hỏi lớn:

1. Tại sao Ngài hành thiền?

2. Ngài hành thiền như thế nào?

3. Kết quả việc hành thiền của Ngài ra sao?

Nhóm người hành hương này là những vị đại diện cho một tổ chức tôn giáo Âu Châu đã đến gặp nhiều thiền sư ở Á Châu để hỏi những câu hỏi trên.

Nghe ba câu hỏi này, Ngài Ajahn Chah nhắm mắt, trầm ngâm một lát, rồi trả lời bằng cách hỏi lại ba câu hỏi khác:

1. Tại sao quí vị ăn?

2. Quí vị ăn như thế nào?

3. Sau khi ăn xong quí vị cảm thấy ra sao?

Nói xong Ngài cười.

Về sau Ngài giải thích rằng: Những lời dạy của Đức Phật nhằm mục đích hướng dẫn mọi người hãy trở về với Trí Tuệ nội tại của mình, trở về với Giáo Pháp tự nhiên của mình. Bởi thế nên Ngài muốn nhắc nhở những vị hành hương này không cần phải đi khắp Á Châu tìm kiếm lời giải đáp mà hãy trở về tìm hiểu phần bên trong của mình.

Ajahn Chah

CHUYỆN NGƯỜI MÙ và NGƯỜI QÙE

Photo: Thước đo của một người tu hay đang hướng tâm tu không phải là kiến thức nhiều, nghe nhiều, đọc nhiều, hoat động & truyền bá Phật pháp nhiều. Mà là Chánh niệm, Tỉnh Giác - bớt tham-sân-si, chấp ngã, sống với bốn tâm cao thượng Từ, Bi, Hỉ, Xã, & không phân tích, chỉ trích mọi người. Điều này được phản ảnh qua ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, lắng đọng của người đó.  Namo Buddhaya  __(())__

Mời bạn cùng ngồi, tôi xin kể bạn nghe một câu chuyện:
 Có một người bị mù và một người bị què chân sống chung với nhau trong một gia đình,  trong đó có vài người khác cùng chung sống để giúp đỡ cho họ. Song một hôm những người kia đều có việc phải ra ngoài, người đi câu cá, người đi mua sắm, người đi chơi,  người mù và người què là những người còn lại trong nhà. Trong cái ngày đặc biệt ấy căn nhà bỗng xảy ra hỏa hoạn, người mù không thấy được đường nên không thể thoát ra được. Người què thấy được, nhưng không có đôi chân lành lặn để đi ra. Thật nan giải! Chắc chắn họ sẽ bị chết cháy thôi! 

Lúc đó, có một vị thiện tri thức cho họ lời khuyên: ” Các anh đều có thể thoát được nạn cháy, có thể thoát ra được ngôi nhà lửa này. Làm cách nào để thoát? Người mù hãy sử dụng đôi mắt của người què và người què sử dụng đôi chân của người mù.” Họ liền theo chỉ dẫn của thiện tri thức. – Có phải người què móc mắt của mình ra rồi gắn vào hốc mắt của người mù chăng? Bất kỳ một cuộc giải phẫu với phương pháp ấy đều thất bại cả. Nếu như người ta tìm cách gắn đôi chân của người mù vào thân của người què cũng đều là vấn đề nan giải, vượt qua ngoài quy luật tự nhiên. Thế thì họ làm sao? 

Họ tạo ra một tình huống tốt nhất bằng cách người mù cõng người què. 
Người què có mắt nên hướng dẫn: ” Quẹo phải, quẹo trái, đi thẳng,” 
người mù có đôi chân, tuy không thấy đường nhưng có thể ( Tin ) nghe được lời chỉ dẫn của người què. 
Nhờ nghe lời khuyên đúng lúc và hợp lý, cả hai đều tự xoay xở để tự cứu được mình.

Thưa, nếu chúng ta chỉ đơn thuần có Niềm Tin mà không được Trí Tuệ soi sáng,
 chúng ta sẽ bước những bước chân (hành động) mù lòa . 
Nếu chúng ta có Trí Tuệ mà không có Niềm Tin, chúng ta có cái
 ” thấy xa trong rộng ” nhưng lại hạn chế bởi sự què ( không hành động ) 
nên rốt cùng cũng không có lợi ích chi. Niềm Tin & Trí Tuệ 
là đôi cánh bất khả phân của người tu Phật vậy

Thích Tánh Tuệ

KHỈ VỚT TRĂNG

Xưa có bầy khỉ nọ
Lội xuống hồ vớt trăng
Vớt mãi hoài không được
Nên mặt mày.. nhăn nhăn. 
khi
Lắm khi mình giống khỉ
Tìm hạnh phúc trần gian,
Đôi tay vừa chạm tới
Ơ..  mộng vàng vỡ tan!.

Trăng nghìn thu vẫn đẹp
Vì không thuộc về ai,
Hồn khát khao chiếm hữu 
Trăm năm nỗi đau dài.

.. Ta một đời ngây dại
Chạy đua với mặt trời.
Vừa thấy bờ hạnh phúc
Hoàng hôn phủ xuống đời.

Danh, lợi, tình mộng mị
Tợ đáy nước trăng ngà
Lặn chìm trong mê hoặc
Nên ngàn đời xót xa.

U mê..  thành kiếp khỉ
Chúi xuống dòng đảo điên.
Ai giật mình, ngước mặt
” Vầng trăng xưa ” hiện tiền.

Thích Tánh Tuệ